Máy nghiền cỡ khoánglà một loại máy nghiền mới được công ty giới thiệu vào cuối những năm tám mươi. Máy nghiền này hoàn toàn khác với máy nghiền cuộn truyền thống, nó sử dụng “nguyên lý nén thể tích”, sử dụng tác động kết hợp giữa lực cắt và lực căng để phá vỡ vật liệu. Thay vì phương pháp nghiền ép đùn truyền thống, máy nghiền có ưu điểm là khối lượng nhỏ, tiêu thụ điện năng thấp, năng suất cao và kích thước hạt phóng điện đồng đều, đặc biệt thích hợp cho hoạt động hạ cấp và trường nghiền. Nó có những ưu điểm mà các loại máy nghiền khác không thể so sánh được.
Bộ phận làm việc chính của máy nghiền khoáng là hai răng trộn lắp song song, mỗi con lăn răng được bố trí dọc theo trục với một số vòng răng nhất định, mỗi vòng răng được phân bố bằng một số răng con lăn lớn. Một thanh nghiền được bố trí ở giữa phần dưới của hai con lăn. Quá trình nghiền được chia thành ba giai đoạn: giai đoạn đầu tiên, vật liệu ban đầu bị nghiền nát và bị cắn bởi lực cắt cắt tác động chính; trong giai đoạn thứ hai, "nguyên lý nén thể tích" được sử dụng để nghiền, chủ yếu bằng cách cắt, uốn và ép đùn một phần; ở giai đoạn thứ ba, thanh nghiền được nghiền nát và cơ chế nghiền tương tự như ở giai đoạn thứ hai.
Trong giai đoạn thứ hai của quá trình nghiền. Thể tích không gian được chứa bởi hai răng con lăn tương đối giảm dần từ mức lớn, và do đó vật liệu lớn được giữ lại buộc phải bị phá vỡ. Do sự sắp xếp so le của các răng con lăn, vật liệu có kích thước hạt lớn hơn được giữ bởi ba răng (một răng trên một cặp con lăn, hai răng trên cuộn kia). Nếu bán kính của ba điểm kẹp khác nhau thì vận tốc tuyến tính sẽ khác nhau. Vì R1 lớn hơn R2 và R3 nên V1 lớn hơn V2 và V3 nên ba điểm kẹp trên vật liệu sinh ra lực gồm lực cắt, lực uốn và đùn một phần. Điều này hoàn toàn khác với máy nghiền cuộn truyền thống ở chỗ nghiền ép đùn thuần túy, nó tận dụng tối đa độ bền cắt của vật liệu và độ bền uốn nhỏ hơn nhiều so với cường độ nén của đặc tính công suất sản xuất là chỉ số hiệu suất chính của máy nghiền cuộn răng đôi{11}}, liên quan trực tiếp đến việc lựa chọn các thông số trong thiết kế máy nghiền, cũng là cơ sở quan trọng để người dùng lựa chọn máy. Vì vậy việc xác định năng lực sản xuất như thế nào là rất quan trọng. Trong công thức tính toán năng lực sản xuất truyền thống của máy nghiền cuộn, người ta thường giả định rằng vật liệu đi qua khe hở giữa hai cuộn với cùng tốc độ. Sự khác biệt chính giữa máy nghiền cỡ khoáng và máy nghiền cuộn truyền thống về cấu trúc là răng của máy nghiền cỡ khoáng cao và lớn, điều này ảnh hưởng trực tiếp đến tốc độ của vật liệu đi qua hai khe hở cuộn cũng như khả năng nạp và xả, đồng thời khe hở giữa các con lăn lớn hơn nhiều so với khoảng cách giữa các máy nghiền cuộn thông thường. Vì vậy, không thể coi đơn giản là tốc độ của vật liệu chuyển động giữa hai cuộn trongmáy nghiền khoáng sảnlà như nhau.

Bài báo này đề xuất phương pháp tính toán công suất sản xuất của máy nghiền cỡ khoáng. Ý tưởng cơ bản của nó là công suất sản xuất của máy nghiền bằng tổng khối lượng vật liệu giữa hai con lăn trừ đi thể tích của tất cả các răng con lăn trong một đơn vị thời gian khi răng con lăn được coi là vật liệu. Qua phân tích quá trình nghiền và đặc điểm lực nghiền của máy nghiền cỡ khoáng, có thể thấy máy nghiền này có những ưu điểm vượt trội so với máy nghiền truyền thống. Theo đặc điểm cấu trúc của máy nghiền này, công thức tính toán năng lực sản xuất thu được bằng phương pháp sai phân được sử dụng. Máy nghiền cỡ khoáng đã được chứng minh là khả thi và thiết thực.
