1. Cấu tạo và đặc tính kỹ thuật của máy nghiền cỡ khoáng
1.1 Cấu trúc cơ thểmáy nghiền khoáng sảnthân máy chủ yếu bao gồm bộ phận truyền động, bộ phận rôto, bộ phận tấm đếm, bộ phận điều chỉnh, v.v.
1.1.1 Bộ phận truyền động của máy nghiền khoáng Bộ phận truyền động sử dụng chế độ cấu hình của động cơ + khớp nối cơ khí + hệ thống khởi động mềm. Động cơ sử dụng động cơ YKK6302-10 6kV nội địa có công suất 900kW, khớp nối cơ khí sử dụng khớp nối chốt đàn hồi của Đức được nhập khẩu cùng với động cơ chính và hệ thống khởi động mềm sử dụng sản phẩm của các công ty tiên tiến nước ngoài. Chế độ lái xe có thể giảm dòng xung khởi động của động cơ, giảm tác động lên lưới điện và bản thân động cơ, đồng thời giảm tác động cơ học lên thiết bị tải cơ học của động cơ, kéo dài tuổi thọ. Ngoài ra, khớp nối chốt đàn hồi có kích thước nhỏ, trọng lượng nhẹ, không cần bảo trì-, dễ tháo lắp và có thể truyền trực tiếp mô-men xoắn của động cơ đến máy nghiền cỡ khoáng, hiệu quả cao, có lợi cho hiệu suất của máy nghiền cỡ khoáng tác động, để đảm bảo hiệu quả nghiền. So với khớp nối thủy lực có khối lượng lớn, trọng lượng nặng, cần đổ đầy dầu và cực kỳ khó tháo lắp thì nó có những ưu điểm rõ ràng. Vì vậy, chế độ lái này là cấu hình ưa thích của máy nghiền than búa đảo chiều cỡ lớn.
1.1.2 Phần rôto Chiều dài hiệu dụng của rôto là 2500mm, đường kính rôto là 1800mm, tốc độ tuyến tính của rôto là 56m/s, 108 đầu búa được phân bố trên 12 trục và được lắp ráp trong khung. Đầu búa và tay búa có cấu trúc tách rời và được kết nối bằng trục chốt, để thuận tiện cho việc thay thế đầu búa. Đầu búa được bố trí theo hình xoắn ốc theo chiều dài rôto, trục nối giữa tay búa và rôto là kết cấu từng phần. Nó không cần bơm không gian trục trong quá trình bảo trì và có thể giảm lượng không khí đầu vào và đầu ra một cách hiệu quả, cải thiện hiệu suất cân bằng của toàn bộ thao tác và giảm giá trị lực gây nhiễu trong quá trình vận hành. Đầu búa sử dụng đường kính phân bố lớn và mô-men xoắn khởi động nhỏ. Đĩa rôto của cánh tay búa treo là cấu trúc tách rời, kết nối linh hoạt giữa đầu búa và cánh tay búa với cánh tay búa và đĩa rôto có thể đóng vai trò bảo vệ quá tải để ngăn chặn các mảnh vụn gây nhiễu hoặc làm hỏng thiết bị sau khi vào máy nghiền cỡ khoáng.
1.1.3 Tấm phản công và bộ phận điều chỉnh Tấm phản công được treo trong khung và có dạng đường đứt nét, một bộ bên trái và một bộ bên phải. Hai bên được bố trí đối xứng. Đầu ra của máy nghiền cỡ khoáng không có lưới, bằng cách điều chỉnh khe hở giữa tấm quầy và đầu búa để đảm bảo độ hạt xả, độ hạt xả dmax Nhỏ hơn hoặc bằng 8 mm. Có hai điểm điều chỉnh ở phần trên và dưới của tấm quầy. Điểm điều chỉnh phía trên có thể được điều chỉnh theo vị trí khác nhau của vật liệu nghiền, để thay đổi kích thước của phần trên của buồng nghiền và Góc tác động của vật liệu lên tấm quầy. Đồng thời, kích thước hạt cấp liệu có thể được kiểm soát hợp lý. Điểm điều chỉnh thấp hơn có thể thay đổi khoảng cách giữa tấm quầy và búa bất cứ lúc nào, để kiểm soát độ chi tiết của quá trình phóng điện.
2.1 Hệ thống điều khiển và phụ kiện Thiết bị có tính tự động hóa cao, được trang bị hệ thống giám sát tự động, hệ thống mở thủy lực, hệ thống bôi trơn tự động và hệ thống giảm rung. Hệ thống giám sát tự động có thể theo dõi biên độ của ổ trục chủ, nhiệt độ ổ trục, tốc độ, v.v. Hệ thống giám sát được trang bị phần mềm điều khiển, có thể khóa liên động với hệ thống điều khiển chính để thực hiện điều khiển tự động cục bộ và từ xa.
Hệ thống mở thủy lực được sử dụng để đóng mở khung bên trái và bên phải trong quá trình bảo trì, giúp giảm cường độ công việc bảo trì một cách hiệu quả. Hệ thống bôi trơn tự động được điều khiển tập trung bởi hệ thống giám sát tự động. Có các bề mặt phun dầu mỡ tại các vị trí quan trọng khác nhau của máy nghiền cỡ khoáng mịn, đóng vai trò bịt kín các bộ phận quay đồng thời giảm ma sát và mài mòn. Hệ thống giảm chấn sử dụng giảm chấn composite đặc biệt, hiệu suất giảm chấn trên 80%, có thể giảm tải trọng động và tĩnh của toàn bộ máy trên nền một cách hiệu quả và giảm đầu tư xây dựng dân dụng.
Kể từ khi thiết bị được đưa vào vận hành thử nghiệm vào ngày 21/10/2002, đến nay đã hoạt động được 4,5 năm, một máy nghiền cỡ khoáng đã nghiền tổng cộng khoảng 2,05 triệu tấn than nguyên liệu. Máy nghiền cỡ khoáng mịn B nghiền được khoảng 2,43 triệu tấn than nguyên liệu. Điều kiện hoạt động tổng thể là tốt. Sản lượng của thiết bị, độ chi tiết xả và khả năng thích ứng của chất lượng than có thể đáp ứng nhu cầu sản xuất nhưng cũng bộc lộ một số vấn đề. Bây giờ, điều kiện hoạt động của máy nghiền cỡ khoáng mịn được phân tích từ các khía cạnh sau.
3.1 Xả Kích thước hạt và phân tích sản lượng Theo đường cong phân bố kích thước hạt của than cấp vào lò do lò hơi cung cấp, phân bố kích thước hạt tối ưu là dmax=8mm và d50=1m. Để hợp tác thử nghiệm hiệu suất của máy nghiền cỡ khoáng, trong quá trình vận hành thử nghiệm, nhà máy điện đã đặc biệt mua than lớn với cỡ hạt 60~150mm. Sau khi nghiền nát máy nghiền cỡ khoáng hai{7}}giai đoạn, nhà máy điện ngẫu nhiên lấy được một nắm than, khi kiểm tra bằng mắt thì phát hiện đây là các hạt mịn và bột mịn. Sau khi lấy mẫu để làm xét nghiệm sàng lọc, kết quả sàng lọc đạt yêu cầu của khách hàng.
