Khay nạp tạp dề hạng nặnglà một thiết bị quan trọng trong các ngành công nghiệp khai thác mỏ, luyện kim, cảng và hóa chất, nhưng trong sách hướng dẫn chuyên môn chưa có lý thuyết thiết kế chính xác về lực cản do phễu gây ra. Công thức kháng lực kéo được rút ra bằng cách sử dụng lý thuyết áp suất thùng mới nhất và so sánh với công thức trong nhiều sách hướng dẫn, nhằm chỉ ra những điểm chưa đúng và thiếu của công thức ban đầu.
Máy cấp tạp dề hạng nặng đóng vai trò không thể thay thế trong khai thác mỏ, luyện kim, công nghiệp hóa chất, cảng và các ngành công nghiệp khác. Kể từ những năm 1950, trình độ thiết kế và sản xuất máy cấp tạp dề hạng nặng trong nước đã có những tiến bộ vượt bậc, nhưng vẫn còn một khoảng cách nhất định so với nước ngoài (lên tới 12000t/h). Một lý do quan trọng là lý thuyết thiết kế tấm nặng vẫn còn bị giới hạn ở phép tính đơn giản ban đầu nhất là phép thuật 1. Đặc biệt, ma sát giữa vật liệu và vật liệu, ma sát giữa vật liệu và tấm váy và ma sát giữa vật liệu và tấm đáy, v.v., không có lý thuyết thiết kế chính xác trong nhiều thập kỷ, và tấm nặng lớn và lớn trên hai loại tính toán điện trở là cực kỳ quan trọng. Từ đầu thế kỷ này, một số học giả đã bắt đầu nghiên cứu về mặt lý thuyết, nhưng vẫn còn nhiều vấn đề chưa được giải quyết. Các công thức tính toán khả năng chống cắt và ma sát giữa vật liệu và tấm váy của máy cấp tấm váy thẳng lần đầu tiên được suy luận một cách có hệ thống. Bài báo [9] rút ra một cách có hệ thống các công thức tính toán điện trở khác nhau của bộ cấp liệu cho tấm váy nghiêng{10}} Công thức dẫn xuất điện trở để đạt được chức năng tương tự của bộ cấp liệu rung và bộ cấp dây đai, không chịu được áp suất kho [cắt. Trong cách bố trí quy trình thực tế của ngành khai thác mỏ và các ngành công nghiệp khác, tấm nặng được bố trí trực tiếp dưới silo và không có "cổ silo" tạp dề nặng nghiêng. Đôi khi cửa silo dài 20m được nối trực tiếp với tấm nặng.
Gọi ox và oy là áp suất của vật liệu theo phương x và y, N/m; A là diện tích mặt cắt ngang của silo, m2; L là chu vi mặt cắt ngang silo, m; 8 là Góc ma sát giữa vật liệu và thành silo, 8=tan1f. ; f. Là hệ số ma sát giữa vật liệu và tường kho; p là Góc ma sát trong của vật liệu, p=tan4,4 là hệ số ma sát trong của vật liệu; p là mật độ khối của vật liệu, kg/m3; g là gia tốc trọng trường, g{11}}m/s2; y là chiều cao của vật liệu trong kho, m; Góc giữa bốn vách silo và mặt phẳng nằm ngang là a và B.
Mục thứ hai của tạp dề hạng nặng ở bên phải của dấu bằng tương đương với công thức, tức là lực ma sát bổ sung của tấm đáy do vật liệu trong phễu gây ra. Tuy nhiên, giá trị này không có mối quan hệ chức năng với Góc nghiêng phễu, chiều cao phễu và hệ số áp suất thành bên, vì vậy rõ ràng là không chính xác khi sử dụng công thức này trong thiết kế các tấm nặng lớn. Tài liệu không xét đến lực cắt giữa các vật liệu dưới phễu, ma sát bổ sung giữa vật liệu trong phễu và tấm váy do vật liệu trong phễu gây ra, chứ chưa nói đến ma sát giữa vật liệu và tấm váy trong suốt chiều dài vận chuyển. Điện trở tại phễu trong một tài liệu như sau: Fm=hDqMg 10 pmu Công thức (19) giống như trong tài liệu, ngoại trừ pM có hai thuật toán khác nhau. PM=0.8 pgab? Hai thuật toán PM=2.8pga2b2/(a+b)pM chứng minh tính không chắc chắn của chính công thức này, và phần không hợp lý cũng là mối quan hệ hàm số với Góc nghiêng phễu, chiều cao phễu và hệ số áp suất thành phễu không thay đổi. Tham khảo Khả năng chống ma sát giữa vật liệu và váy






